Chọn vật liệu khung ao, bè ở miền Tây nên theo độ mặn của nước nơi làm: vùng mặn ven biển làm thép rỉ nhanh nhất, vùng lợ và vùng ngập theo mùa làm gỗ, tre mục nhanh, vùng ngọt đầu nguồn nhẹ nhàng hơn cho cả hai. Composite không rỉ, không mục nên hợp nhất ở vùng mặn và lợ; ở vùng ngọt, gỗ tốt và thép sơn kỹ vẫn dùng được nhiều năm.
Miền Tây chia thành mấy vùng nước khi làm khung ao, bè?
Khi chọn vật liệu, có thể chia miền Tây thành ba vùng nước. Vùng mặn ven biển: Cà Mau, Vĩnh Châu, Trần Đề, Duyên Hải, Ba Tri, Gò Công Đông, Cần Giuộc, Kiên Hải, Phú Quốc. Vùng lợ và mặn theo mùa: ruộng tôm lúa An Biên, An Minh, U Minh Thượng, Hồng Dân, vùng giữa của Vĩnh Long, Cần Thơ. Vùng ngọt đầu nguồn: Châu Đốc, Tân Châu, Hồng Ngự, Thanh Bình, Cao Lãnh, nơi có làng bè và ao cá tra.

Mỗi vật liệu hỏng thế nào ở từng vùng?
Bảng dưới tóm tắt cách mỗi vật liệu hỏng và nơi hợp, theo kinh nghiệm thường gặp: Kẹp phao dàn quạt bằng ống sắt ở vùng mặn cũng rỉ theo kiểu này; chỗ đó thay được bằng ống composite phi 34.

| Vật liệu | Hỏng vì | Vùng mặn | Vùng lợ, ngập theo mùa | Vùng ngọt |
|---|---|---|---|---|
| Tre, cây tràm | Mục ở mặt nước, mặt đất; mối | Ngắn ngày | Ngắn ngày | Rẻ, dùng tạm được |
| Gỗ | Mục, hà khoét (nước mặn), mối mọt | Hà khoét nhanh | Mục chân | Gỗ tốt dùng được lâu |
| Thép mạ kẽm | Rỉ, nhất là mối hàn và lòng ống | Rỉ nhanh nhất | Rỉ mùa mặn | Bền hơn nếu sơn kỹ |
| HDPE | Mềm, cần hàn nhiệt chuyên dụng | Hợp làm lồng nổi | Hợp làm phao, ống | Hợp làm phao, ống |
| Composite FRP | Mềm hơn thép, va đập mạnh có thể nứt, bạc mặt dưới nắng | Hợp | Hợp | Dùng được, lợi ít hơn |
Composite FRP nặng nhẹ ra sao so với thép, gỗ?
Composite FRP nặng khoảng 1,9 – 2,1 tấn/m³, thép 7,85 tấn/m³, gỗ 0,5 – 0,9 tấn/m³. Thanh composite rỗng nên một cây hộp 100 × 50 mm dài 6 m chỉ khoảng 16,4 kg. Ở vùng sông nước chở hàng bằng ghe, xuồng, vật liệu nhẹ giảm hẳn công vác. Bảng so sánh đầy đủ có ở bài xà gồ composite, thép hay gỗ.

Thép mạ kẽm ở vùng mặn dùng được bao lâu?
Thép mạ kẽm ở vùng mặn ven biển dùng được ngắn hơn nhiều so với trong đất liền. Theo cách phân cấp ăn mòn ISO 9223, vùng sát biển thường ở mức C4 – C5, nơi lớp mạ kẽm Z275 của xà gồ thép có thể hết sau khoảng 2,5 – 9 năm. Chỗ ướt mặn liên tục như chân cầu nhá, chân chòi thì nhanh hơn nữa. Cách tính có ở bài lớp mạ kẽm dùng được bao lâu.


Khi nào không nên dùng composite?
Không nên dùng composite khi công trình chỉ dùng một hai vụ rồi bỏ, khi cần chịu va đập mạnh trực tiếp mà không có chắn va, hoặc khi kết cấu cần cứng như thép mà không đổi được sang thanh cao hơn. Ở vùng ngọt đầu nguồn, nếu đã có gỗ tốt và thợ quen làm, chênh lệch tuổi thọ không lớn bằng vùng mặn. Giá composite cao hơn tre, gỗ lúc mua, xem bài giá xà gồ composite.

Có nên dùng chung composite và HDPE trên một bè không?
Nên. Trên một bè nuôi, HDPE hợp làm phao và vòng lồng dẻo, composite hợp làm đà, sàn, lối đi, nhà canh, mái. Hai vật liệu đều không rỉ, nối với nhau bằng đai inox hoặc kẹp ôm, không khoan xuyên phao HDPE. Cách nối đà với phao có ở bài bè cá sông Tiền ở Cái Bè.

Hỏi Santiago chọn vật liệu cho công trình thủy sản thế nào?
Hỏi chọn vật liệu, anh chị gửi loại công trình, tên xã và ảnh hiện trạng cho Santiago FRP qua số miền Nam 0932 411 006. Santiago cho biết phần nào nên dùng composite, phần nào giữ vật liệu cũ, và tính số thanh cho phần composite.

Nguồn tham khảo
- ISO 9223: phân cấp ăn mòn khí quyển C1 – CX.
- Bảng thông số vật liệu FRP kéo đùn, thép xây dựng, gỗ trên santiagofrp.vn.
- Bộ Xây dựng: dự thảo QCVN 02, 2026.
Câu hỏi thường gặp
Vùng nước mặn ven biển nên làm cầu nhá bằng gì?
Vùng nước mặn ven biển nên làm cầu nhá bằng vật liệu không rỉ, không bị hà khoét như composite hoặc nhựa. Thép rỉ nhanh nhất ở vùng này, gỗ bị hà và mục.
Composite và HDPE khác nhau thế nào khi làm bè?
HDPE là nhựa dẻo, hợp làm phao và vòng lồng uốn theo sóng. Composite FRP cứng hơn, hợp làm đà, sàn, lối đi, nhà canh. Hai loại dùng chung trên một bè được.
Khi nào không nên dùng composite cho ao, bè?
Không nên dùng composite khi công trình chỉ dùng một hai vụ, khi chịu va đập mạnh trực tiếp mà không có chắn va, hoặc khi kết cấu cần cứng như thép mà không đổi được sang thanh cao hơn.
Một mét thanh composite làm khung bè giá bao nhiêu?
Thanh hộp 100 × 50 mm (SF-100) 234.000 đ, 120 × 60 mm (SF-120) 289.000 đ, 80 × 40 mm (SF-80) 104.000 đ mỗi mét; ống Ø34 46.000 đ mỗi mét. So với tre, gỗ phải tính cả số lần thay trong 10 năm.
Sản phẩm phù hợp với bài này
SF-120120 × 60 × 5289.000 đ/m · 1.734.000 đ/cây 6 m
SF-100100 × 50 × 5234.000 đ/m · 1.404.000 đ/cây 6 m
SF-8080 × 40 × 3104.000 đ/m · 624.000 đ/cây 6 mGiá niêm yết đã gồm VAT, chưa gồm vận chuyển. Bán theo cây 6 m, nhận cắt theo bước kèo khi đặt trước.





