Ở Việt Nam, xà gồ mái phổ biến có ba loại: thép mạ kẽm (chữ C, chữ Z, hộp), gỗ và composite. Không loại nào tốt nhất cho mọi mái. Chọn loại nào tùy vào không khí dưới mái, thời gian định dùng công trình, và việc chủ nhà có chấp nhận sửa mái sau vài năm hay không.
Đòn tay gỗ
Gỗ dễ kiếm ở nông thôn, thợ quen làm, mua ít thì rẻ. Nhà cũ ở quê phần lớn dùng đòn tay gỗ hoặc tre.
Nhược điểm của gỗ là mối mọt, mục ở chỗ ẩm, cong vênh khi khô và nứt theo thớ. Gỗ tốt thì bền nhưng ngày càng đắt và khó tìm. Gỗ tạp thì phải tẩm thuốc chống mối và vẫn mục ở đầu cây, chỗ gác lên tường hay bị ẩm.
Đòn tay gỗ hợp với nhà nhỏ, khô ráo, khi chủ nhà sẵn sàng thay lúc gỗ mục. Thay đòn tay cho nhà cũ có bài riêng: đòn tay gỗ bị mối mục, thay bằng gì.
[ẢNH – thêm sau: đòn tay gỗ bị mối ăn, mục ở đầu cây gác lên tường]
Xà gồ thép mạ kẽm
Xà gồ thép có ba dạng chính: chữ C, chữ Z và hộp. Thép dày khoảng 1,5 – 3 mm, mạ kẽm hoặc mạ nhôm kẽm. Thép rất cứng, nên mặt cắt nhỏ vẫn bắc được bước kèo xa. Giá mỗi mét thấp, chỗ nào cũng bán, thợ nào cũng biết làm.
Nhà ở khô ráo trong phố dùng xà gồ thép mạ kẽm rất ổn. Điểm yếu của thép là rỉ. Lớp kẽm chỉ giữ cho thép không rỉ đến khi kẽm bị ăn hết. Ở chuồng trại, ven biển, xưởng hóa chất, lớp kẽm mất nhanh hơn nhà thường nhiều lần, và chỗ khoan, chỗ bắn vít rỉ trước vì kẽm ở đó đã bị phá ngay lúc thi công.
Bài lớp mạ kẽm Z80, Z120, Z275 dùng được bao lâu có cách ước tính số năm cho từng nơi.
Xà gồ composite
Composite FRP không rỉ, không mục, không bị mối, không phải sơn, không dẫn điện. Cùng thể tích, composite nặng khoảng một phần tư thép.
Đổi lại, composite mềm hơn thép khoảng tám đến mười lần, nên cùng bước kèo thì xà gồ composite phải dùng hộp cao hơn. Giá mua mỗi mét thường cao hơn thép mạ kẽm. Composite là nhựa nên cháy được; nơi có yêu cầu phòng cháy cần loại nhựa chống cháy.
Nặng nhẹ: một ví dụ
Xà gồ thép chữ C 100 × 50 × 20 mm dày 2 mm nặng khoảng 3,5 kg mỗi mét. Xà gồ composite SF-100, hộp 100 × 50 mm vách 3,5 mm, nặng 1,95 kg mỗi mét, nhẹ hơn gần một nửa dù vách dày hơn.
Hai cây này không cứng bằng nhau, cây thép cứng hơn. So sánh cho đúng phải đặt hai cây bắc được cùng một bước kèo, và với composite thường là cỡ cao hơn một bậc. Dù vậy, cây composite vẫn nhẹ hơn, dễ đưa lên mái hơn.
[ẢNH – thêm sau: hai cây xà gồ thép chữ C và composite hộp đặt cạnh nhau]
Bảng so sánh
Bảng dưới đặt đòn tay gỗ, xà gồ thép mạ kẽm và xà gồ composite FRP cạnh nhau theo tám tiêu chí, từ rỉ mục, trọng lượng, độ cứng tới giá mua.
| Tiêu chí | Gỗ | Thép mạ kẽm | Composite FRP |
|---|---|---|---|
| Rỉ, mục | Mục, mối mọt | Rỉ, nhanh ở nơi có amoniac, muối, hóa chất | Không rỉ, không mục |
| Trọng lượng | Nhẹ | Nặng nhất | Khoảng 1/4 thép cùng thể tích |
| Độ cứng | Trung bình | Cứng nhất | Mềm hơn thép, chọn cỡ theo độ võng |
| Thi công | Cưa, đục dễ | Máy cắt sắt, bắt vít hoặc hàn | Cắt, khoan bằng lưỡi hợp kim, bắt bu lông, không hàn được |
| Bảo dưỡng | Chống mối, thay khi mục | Sơn chống rỉ lại ở nơi ẩm, có hóa chất | Không cần sơn |
| Dẫn điện | Không | Có | Không |
| Cháy | Cháy | Không cháy nhưng mất cường độ khi nóng | Cháy được, có loại chống cháy |
| Giá mua mỗi mét | Tùy loại gỗ | Thấp | Cao hơn thép |
Tính tiền trên cả đời mái
So giá mỗi mét chỉ đúng khi hai loại dùng được lâu như nhau. Để so cho công bằng, cộng tất cả các khoản trong suốt thời gian định dùng công trình:
- Tiền mua xà gồ và phụ kiện.
- Tiền công lắp.
- Tiền sơn lại: bao nhiêu năm một lần, mỗi lần bao nhiêu, có phải bắc giàn không.
- Tiền thay: dỡ tấm lợp, thay xà gồ, lợp lại, thường kèm thay luôn tấm lợp đã hỏng theo.
- Tiền mất vì phải ngừng: trại phải dồn đàn hoặc xuất chuồng sớm, xưởng phải dừng máy.
Ở trại heo, nhà sát biển, xưởng hóa chất, xà gồ thép có thể phải sơn lại vài lần và thay ít nhất một lần trong thời gian trại hay xưởng còn hoạt động. Cộng các khoản đó lại, xà gồ composite nhiều khi rẻ hơn. Nhà ở khô ráo trong phố thì thép không phải sơn, không phải thay sớm, nên thép vẫn rẻ hơn.
[ẢNH – thêm sau: mái trại chăn nuôi có xà gồ thép rỉ nặng chờ thay]
Gợi ý theo công trình
Xà gồ composite hợp với nơi ẩm, có amoniac, hơi muối hoặc hóa chất; nhà khô ráo dùng thép mạ kẽm; mái tạm dùng gỗ hoặc thép.
- Trại gà, trại heo, trại bò: composite.
- Nhà sát biển, ao tôm, kho cá: composite.
- Xưởng xi mạ, phân bón, xử lý nước thải: composite, dùng nhựa vinyl ester nếu hóa chất mạnh.
- Nhà cũ đòn tay gỗ đã mục: composite nếu dưới mái ẩm hoặc nuôi gia súc, thép nếu khô ráo.
- Nhà ở khô ráo, nhà kho thường: thép mạ kẽm.
- Chòi, mái tạm dùng vài năm: gỗ hoặc thép.
Chưa chắc mái của mình thuộc loại nào thì gửi ảnh qua Zalo, Santiago tư vấn trước rồi mới báo giá. Đọc thêm: vì sao xà gồ thép mạ kẽm bị rỉ, 7 nhược điểm của xà gồ composite và xà gồ composite giá bao nhiêu.
Câu hỏi thường gặp
Xà gồ composite có đắt hơn xà gồ thép không?
Giá mua mỗi mét xà gồ composite thường cao hơn xà gồ thép mạ kẽm. Ở trại chăn nuôi, nhà ven biển, xưởng hóa chất, nơi thép phải sơn lại và thay sớm, tính tổng chi phí trên cả đời mái thì composite nhiều khi rẻ hơn.
Nhà ở bình thường có nên dùng xà gồ composite không?
Nhà ở khô ráo trong phố dùng xà gồ thép mạ kẽm là hợp lý về giá. Xà gồ composite đáng tiền ở nơi thép rỉ nhanh: chuồng trại, ven biển, ao tôm, xưởng hóa chất.
Xà gồ composite nhẹ hơn xà gồ thép bao nhiêu?
Cùng thể tích, composite nặng khoảng một phần tư thép. Ví dụ xà gồ thép chữ C 100 × 50 × 20 dày 2 mm nặng khoảng 3,5 kg/m, còn xà gồ composite SF-100 nặng 1,95 kg/m.
