Mái nhà ven biển bền nhất khi cả xà gồ, bu lông và tấm lợp đều không rỉ: xà gồ composite, liên kết inox, tôn hoặc ngói nhựa. Hơi muối làm xà gồ thép rỉ từ khe giữa tôn và xà gồ, nên nhiều nhà sát biển phải thay xà gồ thép sau vài năm.
Ở nhà gần biển, sáng ra sờ lên lan can thấy dính tay. Đó là muối. Gió biển mang theo những hạt nước mặn rất nhỏ, bám lên mọi bề mặt. Đêm xuống gặp sương, muối tan ra thành một lớp nước mặn mỏng. Thép nằm trong lớp nước đó rỉ nhanh hơn nhiều so với ở trong đất liền.
[ẢNH – thêm sau: nhà ven biển có mái tôn và xà gồ thép rỉ, nhìn thấy biển phía sau]
Hơi muối đi vào đất liền bao xa?
Lượng muối trong không khí nhiều nhất ở vài trăm mét đầu tính từ mép nước, rồi giảm dần khi vào sâu. Theo cách phân cấp của ISO 9223, nhà sát biển thường ở mức ăn mòn C4 đến C5, có nơi sát sóng còn nặng hơn. Mùa gió chướng và khi có bão, muối bị thổi vào sâu hơn bình thường, nên nhà cách biển vài cây số vẫn có thể bị ảnh hưởng.
Xà gồ thép ven biển hỏng từ đâu?
Hạt muối lọt vào khe giữa tôn và xà gồ, chỗ nắng gió không làm khô được và mưa không rửa trôi được. Lớp kẽm bị ăn từ đó, rồi tới các lỗ vít. Nhìn từ ngoài tôn còn tốt, bên dưới xà gồ đã rỉ thủng. Mùa bão, mái thường tốc từ chính những chỗ này.
[ẢNH – thêm sau: mặt dưới xà gồ thép rỉ thủng ở chỗ tiếp xúc với tôn]
Làm mái ven biển thế nào cho bền?
Mái ven biển bền khi xà gồ, liên kết và tấm lợp đều không rỉ, cỡ xà gồ chọn theo vùng gió của xã, và mép mái được gia cố.
- Xà gồ composite: không có kim loại, hơi muối không làm rỉ.
- Bu lông, vít, bát liên kết bằng inox 304.
- Tấm lợp không rỉ: tôn nhựa, ngói nhựa.
- Chọn cỡ xà gồ theo vùng gió của xã. Nhiều xã ven biển Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ thuộc vùng gió III, IV.
- Hàng xà gồ ở mép mái, góc mái, đầu hồi tăng một cỡ, bắn vít tôn dày hơn.
Nhà ven biển dùng xà gồ composite cỡ nào?
Nhà ven biển kèo 1,5 – 2 m thường dùng SF-60 đến SF-100, kho cá và nhà màng kèo 3 m dùng SF-120 hoặc SF-160, tùy vùng gió của xã.
| Bước kèo | Vùng II | Vùng III | Vùng IV | Vùng V |
|---|---|---|---|---|
| 1,5 m | SF-60 | SF-80 | SF-80 | SF-80 |
| 2 m | SF-80 | SF-80 | SF-100 | SF-100 |
| 3 m | SF-120 | SF-120 | SF-160 | SF-160 |
Nhà dân ven biển, mái hiên thường đặt kèo 1,2 – 2 m. Kho cá, nhà màng ao tôm hay đặt kèo 3 m. Bảng tính cho mái tôn nhựa, xà gồ cách nhau 660 mm. Tra đúng vùng gió theo tên xã ở bảng tra.
Ao tôm, kho cá, chòi canh
Nhà màng ao tôm vừa ẩm vừa mặn, có thêm hơi từ nước ao, nên khung thép rỉ rất nhanh. Kho cá có nước đá tan và muối ướp cá rơi vãi. Ở những chỗ này, xà gồ composite và bu lông inox giúp khung mái không phải thay sau mỗi vài vụ.
[ẢNH – thêm sau: nhà màng ao tôm dùng xà gồ composite]
Ngoài mái
Cùng lý do đó, cầu thang, sàn thao tác, lối đi ngoài trời ở ven biển cũng nên làm bằng composite thay cho thép. Đọc thêm về sàn grating FRP và cách gia cố mái trước mùa bão.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao mái nhà ven biển nhanh rỉ?
Gió biển mang hạt muối bám lên xà gồ và tôn. Ban đêm gặp sương, muối tan thành lớp nước mặn làm thép rỉ nhanh, nhất là ở khe giữa tôn và xà gồ, nơi không khô và không được mưa rửa.
Nhà ven biển nên dùng xà gồ gì?
Nên dùng xà gồ composite vì không có kim loại nên hơi muối không làm rỉ, kèm bu lông, vít inox và tấm lợp không rỉ như tôn nhựa, ngói nhựa.
Cách biển bao xa thì bị ảnh hưởng hơi muối?
Nặng nhất ở vài trăm mét đầu từ mép nước, giảm dần khi vào sâu. Mùa gió chướng và khi có bão, muối có thể bị thổi vào sâu vài cây số.
Nhà ven biển kèo 2 m dùng xà gồ composite cỡ nào?
Vùng gió II và III dùng SF-80, vùng IV và V dùng SF-100, tính cho mái tôn nhựa với xà gồ cách nhau 660 mm.
