Gia cố mái tôn trước bão theo hướng dẫn của Bộ Xây dựng là chặn bao cát hoặc bao nước nặng 15 – 20 kg lên mép mái và chỗ các tấm tôn chồng nhau, cách nhau khoảng 1 m quanh mép mái và 1,5 m ở giữa mái, đặt ngay trên xà gồ hoặc vì kèo. Mái dốc nhiều thì buộc các bao vào dây vắt qua nóc cho khỏi trượt. Việc này phải xong trước khi gió mạnh.
Đặt bao cát lên mái tôn thế nào cho đúng?
Bao cát đặt đúng là đặt ở chỗ gió giật mái mạnh nhất và ở chỗ bên dưới có xà gồ đỡ. Thứ tự làm như sau:

- Đặt hàng bao quanh mép mái trước, góc mái đặt trước nhất, mỗi bao cách nhau khoảng 1 m. Mép đầu hồi và mái hiên cũng tính là mép.
- Đặt bao lên đường thẳng của hàng vít, vì dưới hàng vít là xà gồ. Bao nằm giữa hai xà gồ làm sóng tôn bẹp, nước đọng ở chỗ bẹp.
- Phần giữa mái đặt thưa hơn, khoảng 1,5 m một bao, ưu tiên chỗ hai tấm tôn chồng lên nhau.
- Mái dốc nhiều: buộc các bao thành từng cặp bằng dây vắt qua nóc mái, hai bao hai bên dốc kéo nhau, để bao không trượt xuống.
Bao nên đổ lỏng, chừng hai phần ba bao, để bao nằm bẹt ôm theo sóng tôn và khó lăn. Tài liệu chống bão của Sở Xây dựng Kiên Giang dùng bao khoảng 20 kg, cách nhau 1 – 2 m, đặt trên các đòn tay và dày hơn ở rìa mái dọc và rìa mái ngang. Vì sao mép và góc mái bị hút mạnh hơn giữa mái có ở bài gió bão tốc mái bắt đầu từ đâu.
Một mái tôn 6 × 10 m cần bao nhiêu bao cát?
Mái tôn 6 × 10 m cần khoảng 42 bao nếu làm theo khoảng cách của Bộ Xây dựng: 32 bao đặt cách 1 m quanh chu vi 32 m của mái, thêm 10 bao cách 1,5 m ở phần giữa. Với bao 15 – 20 kg, tổng cộng khoảng 630 – 840 kg, tức 10 – 14 kg trên mỗi mét vuông mái.

| Diện tích mái | Bao quanh mép (cách 1 m) | Bao ở giữa (cách 1,5 m) | Tổng số bao | Khối lượng (bao 15 – 20 kg) |
|---|---|---|---|---|
| 4 × 6 m | 20 | 2 | 22 | 330 – 440 kg |
| 6 × 10 m | 32 | 10 | 42 | 630 – 840 kg |
| 8 × 12 m | 40 | 18 | 58 | 870 – 1.160 kg |
Cách đếm: bao quanh mép bằng chu vi mái chia 1 m; phần giữa là ô lưới 1,5 m trong vùng cách mép 1 m. Mái có đầu hồi, mái hiên rời thì cộng thêm bao cho từng mép đó.
Tải 10 – 14 kg/m² là đáng kể với mái cũ. Các bảng xà gồ composite của Santiago tính hoạt tải sửa chữa 30 daN/m², nên mái làm theo bảng chịu được số bao này. Xà gồ thép đã rỉ mỏng hay đòn tay gỗ đã mục thì nên kiểm tra trước, có khi đặt bao lên lại làm võng thêm; cách nhìn mức rỉ có ở bài xà gồ thép bị rỉ.
Bao cát hay túi nước chặn mái tôn tốt hơn?
Bao cát và túi nước đều được Bộ Xây dựng chấp nhận để chặn mái tôn, miễn mỗi bao nặng 15 – 20 kg. Túi nước nhẹ khi mang lên mái rồi mới bơm nước, mỗi lít nước nặng khoảng 1 kg, nên túi 20 lít là đủ nặng. Túi nước thủng thì mất hết sức nặng giữa cơn bão; bao cát ngấm mưa chỉ nặng thêm. Dùng túi nước thì chọn túi dày, kiểm tra lại sau mỗi đợt gió.
Chằng cáp và nẹp mép tôn trước bão làm thế nào?
Chằng cáp là vắt dây cáp qua mái tôn rồi neo xuống cọc đóng dưới đất, theo tài liệu Sở Xây dựng Kiên Giang thì khoảng 2 m một sợi. Cáp giữ cả mảng mái, hợp với nhà cấp bốn, nhà kho, chuồng trại không có nhà bên cạnh che gió.

Nẹp mép chồng tôn là cách Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai hướng dẫn tháng 9/2025: đặt thanh nẹp thép hoặc gỗ ngang qua mép các tấm tôn chồng nhau, cách nhau khoảng 1,5 – 2 m; khoan lỗ ở đỉnh sóng, buộc thanh nẹp xuống xà gồ bằng dây thép, rồi bịt lỗ bằng keo hoặc xi măng. Mái dùng xà gồ composite thì vòng dây ôm quanh hộp xà gồ, không khoan thêm lỗ vào hộp nếu không có ống lót.
Ke chống bão mái tôn là gì, đặt ở đâu?
Ke chống bão là miếng kẹp kim loại ôm lên sóng tôn rồi bắt vít xuống xà gồ, giữ cho tôn không bị gió xé quanh đầu vít. Sở Xây dựng Quảng Ngãi đưa ke chống bão và neo buộc xà gồ vào tài liệu hướng dẫn phòng chống tốc mái tháng 9/2025. Ke chỉ cần ở chỗ gió hút mạnh: dải khoảng 1,5 m dọc mép mái, bốn góc, nóc và đầu hồi.

Ke bắt lên xà gồ composite dùng vít inox có long đền cao su, giống vít bắn tôn. Tôn thép mạ thì hỏi hãng tôn loại vít và ke hợp với lớp mạ, vì hãng BlueScope Lysaght xếp inox vào nhóm kim loại không nên tiếp xúc trực tiếp với tôn mạ nhôm kẽm.
Neo xà gồ vào vì kèo trước mùa bão thế nào?
Xà gồ phải được neo chặt vào vì kèo và tường hồi, vì kèo phải liên kết xuống cột và móng; tài liệu của Sở Xây dựng Kiên Giang (2018) còn khuyên giằng chéo ở các góc mái. Mỗi chỗ xà gồ gác lên kèo cần đủ bát và bu lông. Bu lông đã rỉ nên thay trước mùa bão; loại bu lông cho xà gồ composite có ở bài bu lông inox 304 liên kết xà gồ, còn ty giằng giữa các hàng xà gồ xem bài giằng xà gồ.

Bịt khe hở và đóng cửa có giúp mái khỏi tốc không?
Bịt khe hở và đóng chặt cửa giúp mái khỏi tốc, vì gió lùa vào nhà sẽ đẩy mái từ dưới lên, cộng với lực hút ở mặt trên. Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai khuyên bịt khe giữa đỉnh tường và mái, các lỗ thông gió bằng gỗ dán hoặc tấm tôn, nhất là nhà cấp bốn lâu năm; cửa thì cài then, chống thêm đòn tre hoặc gỗ, dán băng dính bản rộng lên kính.

Gia cố mái tôn trước bão không nên làm gì?
Gia cố mái tôn trước bão không nên làm năm việc sau, có việc còn làm mái hỏng nặng hơn:
- Không leo lên mái khi gió đã mạnh hoặc tôn đang ướt. Việc gia cố làm trước khi bão vào.
- Không chặn mái bằng gạch, đá rời hay tấm bê tông vỡ: gió đủ mạnh hất chúng thành vật bay.
- Không đặt bao giữa hai hàng xà gồ trên tôn mỏng hay tôn nhựa.
- Không bịt lỗ khoan trên tôn thép bằng keo silicon có mùi giấm; hãng Lysaght chỉ khuyên keo silicon trung tính cho tôn thép.
- Không neo dây vào ống thoát nước, lan can mỏng hay cây cối.
Sau bão kiểm tra mái tôn thế nào?
Sau bão, kiểm tra vít lỏng hoặc mất ở dải mép mái, tôn rách quanh đầu vít, xà gồ cong hay tuột khỏi bát, rồi mới gỡ bao cát xuống. Gỡ bao từ giữa mái ra mép, ngược thứ tự đặt. Đoạn xà gồ thép bị cong, rỉ thủng nên thay; cách thay từng gian có ở bài thay xà gồ mái tôn bị rỉ. Nhà ven biển, nơi gió mặn làm thép rỉ nhanh, xem thêm bài mái nhà ven biển chống rỉ.

Thay xà gồ hỏng sau bão bằng xà gồ composite
Gửi kích thước mái, bước kèo, số đoạn xà gồ hỏng và tên xã cho Santiago FRP qua Zalo (miền Nam 0932 411 006, miền Trung 0931 128 428, miền Bắc 0901 128 278). Santiago tra vùng gió của xã, chọn cỡ, cắt khoan sẵn. Xã ở vùng gió III trở lên xem bài vùng gió III, IV, V ở đâu.

Nguồn tham khảo
- Bộ Xây dựng: Hướng dẫn kỹ thuật xây dựng phòng và giảm thiểu thiệt hại do gió, bão cho nhà và công trình (Quyết định 862/QĐ-BXD ngày 05/10/2022) và hướng dẫn chống tốc mái tôn, fibro xi măng đăng lại khi bão Ragasa, tháng 9/2025.
- Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai (Bộ Nông nghiệp và Môi trường): hướng dẫn bảo vệ nhà cửa trước bão, 27/9/2025 (nẹp mép chồng tôn 1,5 – 2 m, bịt khe hở).
- Sở Xây dựng tỉnh Kiên Giang: Một số giải pháp kỹ thuật nhằm giảm thiểu ảnh hưởng của gió bão và lốc xoáy đối với công trình bán kiên cố, 6/2018 (bao cát 20 kg cách 1 – 2 m, cáp chằng 2 m một sợi).
- Sở Xây dựng tỉnh Quảng Ngãi: tài liệu hướng dẫn phòng chống tốc mái, 26/9/2025 (ke chống bão, neo buộc xà gồ).
- BlueScope Lysaght: Roofing and Walling Installation Manual, mục 2.9 và 7.9.
Câu hỏi thường gặp
Bao cát chặn mái tôn nặng bao nhiêu, đặt cách nhau bao xa?
Theo hướng dẫn của Bộ Xây dựng, mỗi bao cát hoặc bao nước nặng khoảng 15 – 20 kg, đặt cách nhau khoảng 1 m quanh mép mái và 1,5 m ở giữa mái, ngay trên xà gồ hoặc vì kèo, ưu tiên chỗ các tấm tôn chồng nhau.
Mái tôn 6 × 10 m cần bao nhiêu bao cát?
Khoảng 42 bao: 32 bao cách 1 m quanh mép và 10 bao cách 1,5 m ở giữa. Với bao 15 – 20 kg, tổng khoảng 630 – 840 kg, tức 10 – 14 kg mỗi mét vuông mái.
Gia cố mái tôn bằng túi nước có được không?
Được. Bộ Xây dựng chấp nhận bao chứa nước nặng 15 – 20 kg như bao cát. Túi nước dễ mang lên mái, nhưng thủng là mất sức nặng, nên chọn túi dày và kiểm tra sau mỗi đợt gió.
Ke chống bão mái tôn đặt ở đâu?
Ke chống bão đặt ở chỗ gió hút mạnh nhất: dải khoảng 1,5 m dọc mép mái, bốn góc mái, nóc và đầu hồi. Ke ôm lên sóng tôn rồi bắt vít xuống xà gồ.
Chằng cáp mái tôn cách nhau bao nhiêu?
Tài liệu chống bão của Sở Xây dựng Kiên Giang chằng cáp qua mái tôn, neo xuống cọc dưới đất, khoảng 2 m một sợi.
Gia cố mái trước bão tốn những khoản nào?
Bao cát hoặc bao nước 15 – 20 kg chặn mép mái gần như không tốn tiền; nếu xà gồ thép đã rỉ mỏng thì nên thay hàng mép bằng xà gồ composite, ví dụ 2 hàng × 10 m SF-120 là khoảng 5.780.000 đ.
Sản phẩm phù hợp với bài này
SF-100100 × 50 × 5234.000 đ/m · 1.404.000 đ/cây 6 m
SF-120120 × 60 × 5289.000 đ/m · 1.734.000 đ/cây 6 mGiá niêm yết đã gồm VAT, chưa gồm vận chuyển. Bán theo cây 6 m, nhận cắt theo bước kèo khi đặt trước.




