Trong 126 xã, phường của Hà Nội, 116 nơi thuộc vùng gió II và 10 xã phía nam (Phú Xuyên, Chuyên Mỹ, Đại Xuyên, Phượng Dực, Chương Dương, Ứng Hòa, Hòa Xá, Vân Đình, Mỹ Đức, Hương Sơn) thuộc vùng III. Ở vùng II, bước kèo 3 m dùng xà gồ composite SF-100; ở 10 xã vùng III, cùng bước kèo 3 m phải lên SF-120.
1. Hà Nội thuộc vùng gió nào?
Theo dự thảo sửa đổi QCVN 02:2022/BXD, Hà Nội sau sắp xếp năm 2025 có 126 xã, phường. Vùng gió II (W0 = 95 daN/m²) gồm toàn bộ các phường nội thành như Ba Đình, Hoàn Kiếm, Cầu Giấy, Hà Đông, Long Biên và phần lớn xã ngoại thành như Sóc Sơn, Đông Anh, Gia Lâm, Ba Vì, Thạch Thất. Vùng III (W0 = 125 daN/m²) chỉ có 10 xã ở phía nam thành phố:

| Vùng gió | Số xã, phường | Ví dụ |
|---|---|---|
| II (W0 = 95 daN/m²) | 116 | Ba Đình, Hoàn Kiếm, Cầu Giấy, Hà Đông, Long Biên, Sơn Tây, Sóc Sơn, Đông Anh, Ba Vì |
| III (W0 = 125 daN/m²) | 10 | Phú Xuyên, Chuyên Mỹ, Đại Xuyên, Phượng Dực, Chương Dương, Ứng Hòa, Hòa Xá, Vân Đình, Mỹ Đức, Hương Sơn |
Tên trong bảng là tên mới từ ngày 1/7/2025. Khi tra phải dùng đúng tên xã, phường nơi làm mái; tra từng nơi ở trang xà gồ composite Hà Nội theo xã, phường. Vùng gió và W0 nghĩa là gì có ở bài vùng gió là gì.
2. Xà gồ composite ở Hà Nội dùng cỡ nào theo bước kèo?
Với tôn hoặc ngói nhựa, hàng xà gồ cách nhau 660 mm, độ võng không quá L/200, cỡ nhỏ nhất ở hai vùng như sau:


| Bước kèo | Vùng II (116 xã, phường) | Vùng III (10 xã phía nam) |
|---|---|---|
| 1,5 m | SF-60 | SF-80 |
| 2 m | SF-80 | SF-80 |
| 2,5 m | SF-100 | SF-100 |
| 3 m | SF-100 | SF-120 |
| 3,5 m | SF-120 | SF-120 |
| 4 – 4,5 m | SF-160 | SF-160 |
| 5 m | SF-160 | SF-200 |
| 6 m | SF-200 | Không đủ ở 660 mm: đặt dày hơn hoặc thêm kèo phụ |
Giá mỗi mét theo bảng niêm yết hiện hành, đã gồm VAT, chưa gồm vận chuyển: SF-60 79.000 đ, SF-80 104.000 đ, SF-100 234.000 đ, SF-120 289.000 đ, SF-160 341.000 đ, SF-200 393.000 đ. Nhà xưởng bước kèo 6 m ở 10 xã vùng III nên xem bài nhà xưởng bước kèo 6 m.
3. Vì sao mùa nồm ở Hà Nội làm xà gồ thép rỉ nhanh?
Khoảng tháng 2 đến tháng 4, Hà Nội hay có những đợt nồm: không khí ấm, ẩm từ biển tràn về gặp tường, mái còn lạnh sau đợt rét nên hơi nước đọng thành giọt. Mặt dưới tấm tôn và xà gồ ướt nhiều ngày liền, nước nhỏ giọt xuống sàn. Xà gồ sắt hộp ướt cả mặt trong lẫn mặt ngoài, rỉ trước ở lỗ vít, mối hàn và đầu hộp hở, vệt rỉ loang xuống trần, tường.

Composite không rỉ nên mùa nồm ướt bao nhiêu ngày cũng không sinh vảy rỉ. Tấm tôn phía trên thì vẫn đọng nước như cũ; muốn mái bớt nhỏ giọt phải lót thêm lớp cách nhiệt dưới tôn, xem bài đọng sương dưới mái tôn và bông thủy tinh cách nhiệt mái tôn.
4. Ở Hà Nội, mái nào nên dùng xà gồ composite?
Xà gồ composite có giá mỗi mét cao hơn thép mạ kẽm, nên đáng dùng ở chỗ ẩm hoặc có hơi ăn mòn. Mỗi loại dưới đây có bài riêng:


- Mái tôn sân thượng nhà phố, nơi nước mưa đọng và hơi nồm làm sắt hộp rỉ nhanh: mái tôn sân thượng.
- Mái che ban công: mái che ban công.
- Nhà màng trồng rau, hoa ở các xã ngoại thành, trong nhà ẩm và có phân bón: xà gồ nhà màng, nhà kính.
- Chuồng bò sữa, trại chăn nuôi có hơi amoniac: mái chuồng bò, chuồng bò sữa.
- Mái che hồ bơi có hơi clo: mái che hồ bơi.
- Xưởng có hơi hóa chất, xi mạ: mái nhà xưởng hóa chất.
Nhà ở khô ráo, mái nằm trong nhà kín thì xà gồ thép mạ kẽm vẫn rẻ hơn và đủ dùng.
5. Ví dụ: cùng một mái 6 × 12 m, ở Cầu Giấy và ở Phú Xuyên khác nhau thế nào?
Mái một dốc rộng 6 m, dài 12 m, chìa 0,3 m mỗi phía, vì kèo cách 3 m (5 vì kèo). Dốc mái dài khoảng 6,3 m nên cần 11 hàng xà gồ, mỗi hàng 12,6 m, tổng khoảng 139 m và 55 bộ liên kết. Chỉ khác vùng gió, mã xà gồ đã khác:


| Nơi làm | Vùng gió | Mã | Tổng chiều dài | Khối lượng | Tiền xà gồ |
|---|---|---|---|---|---|
| Phường Cầu Giấy | II | SF-100 | khoảng 139 m | khoảng 380 kg | khoảng 32.526.000 đ |
| Xã Phú Xuyên | III | SF-120 | khoảng 139 m | khoảng 460 kg | khoảng 40.171.000 đ |
Ở Phú Xuyên, mái này nặng thêm khoảng 80 kg và tốn thêm khoảng 7.645.000 đ tiền thanh so với ở Cầu Giấy. Hai con số trên chỉ là phần thanh; bát, bu lông inox, tấm lợp và phí chở ra Hà Nội tính riêng. Mái có hình dạng khác thì đếm số hàng theo bài cách tính số lượng xà gồ.
6. Đặt xà gồ composite ở Hà Nội thế nào?
Văn phòng miền Bắc của Santiago FRP ở 26 Liễu Giai, phường Ngọc Hà, Hà Nội; số gọi và Zalo miền Bắc 0901 128 278. Anh chị gửi bước kèo, kích thước mái, loại tấm lợp và tên xã, phường; bên em chọn mã theo vùng gió nơi đó và báo giá trọn hệ gồm xà gồ, bát và bu lông inox 304. Xà gồ làm tại nhà máy Santiago FRP ở xã Hòa Khánh, tỉnh Tây Ninh, bảo hành 10 năm; thời gian chở ra Hà Nội ghi kèm trong báo giá.

Nguồn tham khảo
- Dự thảo Sửa đổi 1 QCVN 02:2022/BXD, Số liệu điều kiện tự nhiên dùng trong xây dựng, Bảng 5.1 (IBST, 18/6/2026): vùng gió các xã, phường của TP. Hà Nội.
- Nghị quyết năm 2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã của TP. Hà Nội (126 xã, phường).
- Santiago FRP: bảng bước kèo tối đa và khối lượng các mã SF-60 đến SF-200, bảng giá niêm yết 19/10/2026.
Câu hỏi thường gặp
Hà Nội thuộc vùng gió nào?
116 trong 126 xã, phường thuộc vùng gió II (W0 = 95 daN/m²); 10 xã phía nam gồm Phú Xuyên, Chuyên Mỹ, Đại Xuyên, Phượng Dực, Chương Dương, Ứng Hòa, Hòa Xá, Vân Đình, Mỹ Đức, Hương Sơn thuộc vùng III (W0 = 125 daN/m²).
Bước kèo 3 m ở Hà Nội dùng xà gồ composite cỡ nào?
Ở 116 xã, phường vùng II dùng SF-100; ở 10 xã vùng III phía nam dùng SF-120, với hàng xà gồ cách 660 mm.
Mùa nồm có làm hỏng xà gồ composite không?
Không. Composite không rỉ nên ướt nhiều ngày cũng không sinh vảy rỉ; chỉ cần kiểm tra bu lông, bát liên kết mỗi năm một lần.
Mua xà gồ composite ở Hà Nội liên hệ ở đâu?
Văn phòng miền Bắc Santiago FRP, 26 Liễu Giai, phường Ngọc Hà, Hà Nội; gọi hoặc Zalo 0901 128 278.
Mái 6 × 12 m ở Hà Nội tốn bao nhiêu tiền xà gồ composite?
Vì kèo cách 3 m: ở phường vùng II dùng SF-100, khoảng 139 m, khoảng 32.526.000 đ; ở xã vùng III dùng SF-120, khoảng 40.171.000 đ.
Sản phẩm phù hợp với bài này
SF-100100 × 50 × 5234.000 đ/m · 1.404.000 đ/cây 6 m
SF-120120 × 60 × 5289.000 đ/m · 1.734.000 đ/cây 6 m
SF-6060 × 30 × 379.000 đ/m · 474.000 đ/cây 6 mGiá niêm yết đã gồm VAT, chưa gồm vận chuyển. Bán theo cây 6 m, nhận cắt theo bước kèo khi đặt trước.




