Mái tôn giấu máng là kiểu mái mà máng xối nằm khuất sau tường chắn mái hoặc giữa hai mái, nhìn từ đường không thấy máng. Vì máng âm nằm trong nhà, máng tràn là nước chảy thẳng vào trong. Hướng dẫn của Úc lấy máng âm rộng tối thiểu 200 mm cho nhà ở, 300 mm cho nhà xưởng, dốc từ 1:200 tới 1:40, và luôn có lối tràn xả ra ngoài.
Mái tôn giấu máng và mái tôn giấu mái khác nhau thế nào?
Mái tôn giấu máng và mái tôn giấu mái thường cùng là một kiểu nhà: tường mặt tiền xây cao hơn mái (tường chắn mái), mái tôn dốc vào phía trong, nước dồn về máng xối âm chạy dọc chân tường chắn. Gọi “giấu mái” khi nói tới việc nhìn từ đường không thấy tôn; gọi “giấu máng” khi nói tới máng xối nằm khuất. Kiểu thứ hai hay gặp ở nhà xưởng và nhà nhiều nhịp: máng âm nằm ở chỗ hai mái dốc gặp nhau.

Cả hai kiểu có chung một điểm yếu: máng nằm trên phần nhà ở phía trong, không phải ở mép ngoài như máng treo. Máng treo tràn thì nước rơi xuống sân; máng âm tràn thì nước chảy xuống trần, tường và xà gồ.
Mỗi mét vuông mái đổ vào máng xối âm bao nhiêu nước?
Mỗi 100 m² mái gặp mưa 200 mm/giờ đổ vào máng khoảng 5,6 lít mỗi giây. Cách tính: lưu lượng (lít/giây) = cường độ mưa (mm/giờ) × diện tích mái (m²) ÷ 3.600.

| Diện tích mái đổ vào một máng | Mưa 150 mm/giờ | Mưa 200 mm/giờ | Mưa 250 mm/giờ |
|---|---|---|---|
| 50 m² (nhà phố 5 × 10 m) | 2,1 lít/giây | 2,8 lít/giây | 3,5 lít/giây |
| 100 m² | 4,2 lít/giây | 5,6 lít/giây | 6,9 lít/giây |
| 200 m² | 8,3 lít/giây | 11,1 lít/giây | 13,9 lít/giây |
| 800 m² (xưởng, hai mái 10 × 40 m đổ vào một máng giữa) | 33,3 lít/giây | 44,4 lít/giây | 55,6 lít/giây |
Cường độ mưa ở đây là mưa rào ngắn vài phút, không phải tổng lượng mưa cả ngày. Để hình dung: bảng cường độ mưa thiết kế trong sổ tay của hãng Lysaght ghi Darwin, một thành phố nhiệt đới của Úc, 233 mm/giờ cho trận mưa 20 năm gặp một lần và 274 mm/giờ cho trận 100 năm một lần. Số dùng cho công trình ở Việt Nam lấy theo hồ sơ thiết kế thoát nước của nơi đó.
Máng xối âm mái tôn rộng bao nhiêu?
Máng xối âm mái tôn nên rộng tối thiểu 200 mm cho nhà ở và 300 mm cho nhà xưởng, sâu tối thiểu 75 mm ở đầu cao, theo hướng dẫn RP-02 (08/2023) của Cơ quan Xây dựng bang Victoria (Úc) dựa trên tiêu chuẩn AS/NZS 3500.3. Máng 200 mm không tải được quá 10,5 lít mỗi giây và dễ nghẹt rác hơn máng rộng.

Đổi ra diện tích: máng âm 200 mm chỉ nên nhận khoảng 250 m² mái khi mưa 150 mm/giờ, 190 m² khi mưa 200 mm/giờ, 150 m² khi mưa 250 mm/giờ. Mái lớn hơn thì làm máng rộng hơn, chia máng thành nhiều đoạn có điểm cao ở giữa, hoặc thêm phễu thu. Ví dụ xưởng 800 m² ở bảng trên cần gấp ba tới năm lần sức tải của máng 200 mm.
Máng xối nhựa PVC của Santiago (bên tôn ngói nhựa) có bốn cỡ, kích thước ghi trên ảnh sản phẩm:
| Cỡ máng | Miệng rộng | Đáy | Cao |
|---|---|---|---|
| Máng nhỏ | 205 mm | 135 mm | 135 mm |
| Máng trung | 255 mm | 185 mm | 185 mm |
| Máng cao thấp | 270 mm | 180 mm | 150 mm và 185 mm (hai thành lệch nhau) |
| Máng lớn | 330 mm | 255 mm | 275 mm |
Máng âm cho nhà ở nên chọn cỡ có cả miệng lẫn đáy từ 200 mm trở lên, trong bốn cỡ trên là máng lớn. Máng nhỏ và máng trung hợp làm máng treo ở mép mái, nơi nước tràn rơi ra ngoài nhà.
Máng xối âm dốc bao nhiêu là đủ?
Máng xối âm nên dốc đều từ 1:200 tới 1:40, tức mỗi 10 m máng hạ xuống 5 – 25 cm, theo hướng dẫn RP-02 của bang Victoria. Dốc phải đều suốt chiều dài, không có chỗ trũng đọng nước. Máng phải thẳng, nước chảy tới đầu thấp rồi xả xuống phễu hoặc hộp thu, không bẻ góc giữa đường.

Đáy máng âm phải được đỡ kín suốt chiều dài, chứ không treo vào vài điểm. Sổ tay Lysaght vẽ máng âm nằm trên một tấm đỡ chạy dọc toàn bộ đáy máng, gác lên giá đỡ chỉnh được độ dốc. Máng không được đỡ kín sẽ võng giữa các giá, chỗ võng đọng nước, lâu ngày thủng.
Vì sao máng xối âm phải có ống tràn?
Máng xối âm phải có lối tràn vì rác, lá cây, túi nilon có thể bịt phễu thu bất cứ lúc nào, và khi đó nước chỉ còn đường tràn vào nhà. Hướng dẫn RP-02 yêu cầu mỗi máng âm có lối tràn riêng xả ra ngoài trời, sức thoát không nhỏ hơn lưu lượng thiết kế của phễu; hộp thu có ống tràn bên hông dài tối thiểu 400 mm, hộp tràn lớn dài 600 mm. Sổ tay Lysaght khuyên máng âm tính theo trận mưa 100 năm một lần, còn máng treo ngoài mép mái tính theo trận 20 năm.

- Lỗ tràn hoặc ống tràn đặt thấp hơn mép máng phía trong nhà, để nước tràn ra ngoài trước khi tràn vào trong.
- Phễu thu có lưới chắn rác, dọn trước mùa mưa và sau mỗi trận gió lớn.
- Máng dài quá 6 m giữa hai điểm cố định cần khe giãn nở, đặt ở điểm cao của máng.
- Chừa khoảng 30 mm từ mặt nước thiết kế tới mép máng, để gió tạt không hất nước qua mép.
Máng xối âm làm bằng inox 304 hay tôn?
Máng xối âm hay làm bằng inox 304 vì bền, hàn kín được mối nối. Máng tôn cùng loại với tấm lợp rẻ hơn nhưng mối nối phải tán và trét keo, lâu ngày dễ hở. Mái tôn lạnh đổ nước vào máng inox thì được, nhưng mép tôn không nên nằm áp trực tiếp lên máng inox: hãng BlueScope Lysaght xếp inox vào nhóm kim loại không nên tiếp xúc trực tiếp với tôn mạ nhôm kẽm. Lót một dải đệm cao su hoặc nhựa ở chỗ tôn gác lên máng.

Máng xối nhựa PVC là lựa chọn thứ ba: không rỉ, các đoạn máng nối bằng khớp nối, có sẵn phễu thu và nắp bịt đầu máng cùng loại.
Keo trét mối nối máng tôn và chỗ tôn giáp máng dùng loại silicon trung tính; lý do có ở bài mái tôn bị dột.
Vì sao xà gồ sát máng xối âm rỉ trước?
Xà gồ sát máng xối âm rỉ trước vì nằm ngay cạnh chỗ nước dồn về: mỗi lần máng tràn hay mối nối máng rỉ nước, hàng xà gồ cuối, bát liên kết và đầu vì kèo bị ướt trước tiên. Phần này lại nằm khuất sau tường chắn mái, ít ai lên xem. Thép rỉ ở đây thường chỉ được phát hiện khi trần đã ố hoặc tôn bắt đầu lỏng vít. Giá từng mã xà gồ composite không rỉ có ở bài giá xà gồ composite.

Mái giấu máng nên dùng xà gồ không rỉ ở dải sát máng, ít nhất là hai hàng xà gồ cuối và phần kèo đỡ máng. Xà gồ composite không có kim loại nên nước đọng không làm rỉ; bát và bu lông dùng inox 304. Thanh hộp composite cũng dùng được làm khung đỡ tấm đáy máng, vì chỗ này ướt quanh năm. Cách chọn cỡ xà gồ theo bước kèo và vùng gió có ở bài cách chọn xà gồ composite.
Mái tôn giấu mái dốc bao nhiêu?
Mái tôn giấu mái dốc theo loại tôn, không thấp hơn độ dốc tối thiểu hãng tôn ghi cho kiểu sóng đó; mái càng dài từ nóc xuống máng thì càng cần dốc hơn để nước không dâng qua sóng ở mối chồng. Bảng độ dốc và cách đổi phần trăm sang độ có ở bài độ dốc mái tôn. Nhà phố có tường chắn mái hai bên thì mái thường dốc về một máng âm phía trước hoặc phía sau; hướng dốc phải tránh đổ nước sang nhà bên cạnh, xem bài làm mái tôn sân thượng.

Chỗ tôn giáp tường chắn mái ở đầu cao và hai bên phải có tấm úp tường che khe, đầu trên chèn vào rãnh tường. Đây là chỗ dột hay gặp thứ hai ở mái giấu mái, sau máng.
Kiểm tra mái tôn giấu máng thế nào?
Mái tôn giấu máng nên được kiểm tra trước mùa mưa và sau mỗi trận bão, theo thứ tự:

- Dọn rác trong máng và lưới phễu thu, đổ thử một xô nước ở đầu cao xem nước chảy hết về phễu, không đọng.
- Xem mối nối máng, chỗ máng giáp phễu có vệt nước hay rỉ không.
- Thử ống tràn có thông không.
- Từ trong nhà soi đèn lên hàng xà gồ và kèo sát máng tìm vệt ố, vảy rỉ.
- Xem tấm úp tường chắn mái còn kín, keo không nứt.
Mái có xà gồ thép đã rỉ ở dải sát máng thì thay dải đó trước, không cần thay cả mái; thứ tự thay từng gian có ở bài thay xà gồ mái tôn bị rỉ.
Đặt xà gồ composite cho mái giấu máng
Gửi kích thước mái, vị trí máng âm, bước kèo và tên xã cho Santiago FRP qua Zalo (miền Nam 0932 411 006, miền Trung 0931 128 428, miền Bắc 0901 128 278). Santiago tính cỡ xà gồ cho cả mái hoặc chỉ dải sát máng, cắt khoan sẵn, kèm bát và bu lông inox 304.

Nguồn tham khảo
- Victorian Building Authority (Úc): Plumbing Practice Note RP-02 Box gutters, bản 01/08/2023, theo AS/NZS 3500.3 (máng âm rộng tối thiểu 200 mm nhà ở, 300 mm nhà xưởng, sâu 75 mm; dốc 1:40 – 1:200; lối tràn riêng; hộp tràn 400 – 600 mm; khe giãn nở khi quá 6 m; chừa 30 mm).
- BlueScope Lysaght: Roofing and Walling Installation Manual, mục 2.9 (kim loại không nên tiếp xúc), 6.0 Roof drainage (máng âm tính theo trận mưa 100 năm, bảng cường độ mưa thiết kế, tấm đỡ đáy máng).
- AS/NZS 3500.3:2021 Plumbing and drainage, Part 3: Stormwater drainage.
Câu hỏi thường gặp
Mái tôn giấu máng là gì?
Mái tôn giấu máng là kiểu mái mà máng xối nằm khuất sau tường chắn mái hoặc giữa hai mái, nhìn từ đường không thấy máng. Nước từ mái dồn về máng xối âm rồi xả xuống phễu thu và ống đứng.
Máng xối âm mái tôn rộng bao nhiêu?
Hướng dẫn RP-02 của bang Victoria (Úc), theo AS/NZS 3500.3, lấy máng âm rộng tối thiểu 200 mm cho nhà ở, 300 mm cho nhà xưởng, sâu tối thiểu 75 mm ở đầu cao. Máng 200 mm không tải được quá 10,5 lít mỗi giây.
Máng xối âm dốc bao nhiêu?
Máng xối âm nên dốc đều từ 1:200 tới 1:40, tức mỗi 10 m máng hạ 5 – 25 cm, không có chỗ trũng, chạy thẳng tới đầu xả.
100 m² mái tôn đổ vào máng bao nhiêu nước khi mưa to?
Khoảng 5,6 lít mỗi giây khi mưa 200 mm/giờ: lưu lượng bằng cường độ mưa nhân diện tích mái chia 3.600. Mưa 250 mm/giờ thì khoảng 6,9 lít mỗi giây.
Vì sao mái tôn giấu máng hay bị dột?
Máng âm nằm trong nhà nên máng tràn, mối nối máng hở hay phễu thu nghẹt rác là nước chảy vào trong. Chỗ tôn giáp tường chắn mái thiếu tấm úp tường cũng hay dột. Máng âm cần lối tràn riêng xả ra ngoài.
Đổi xà gồ sát máng xối âm sang composite tốn bao nhiêu?
Chỉ cần đổi 2 – 3 hàng sát máng: nhà dài 15 m, 3 hàng là 45 m; SF-100 khoảng 10.530.000 đ, SF-120 khoảng 13.005.000 đ.
Sản phẩm phù hợp với bài này
SF-100100 × 50 × 5234.000 đ/m · 1.404.000 đ/cây 6 m
SF-120120 × 60 × 5289.000 đ/m · 1.734.000 đ/cây 6 mGiá niêm yết đã gồm VAT, chưa gồm vận chuyển. Bán theo cây 6 m, nhận cắt theo bước kèo khi đặt trước.




